Kiểm tra tình trạng thị thực
Visa Việt Nam ×

VietnamVisa.org.vn

Đại sứ EU Giorgio Aliberti: Thật may mắn khi được ở lại Việt Nam trong đại dịch

Ngày 01 tháng 12 năm 2020

Khi Việt Nam có thể kiểm soát đại dịch Covid-19 thành công, thậm chí còn tốt hơn một số đối tác ở EU, Đại sứ Giorgio Aliberti cho biết ông thật may mắn khi được sống ở Việt Nam trong thời gian này.

Đại sứ EU Giorgio Aliberti

Tôi may mắn được ở lại Việt Nam trong thời kỳ đại dịch

Nhân kỷ niệm 30 năm quan hệ Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU), Zings News, website tin tức trực tuyến tại Việt Nam đã có cơ hội phỏng vấn Đại sứ Aliberti về suy nghĩ của ông về sự sẵn sàng của Chính phủ Việt Nam trong cuộc chiến và kiểm soát dịch bệnh Covid-19. dịch bệnh. Qua đó, sự việc này đã chứng minh năng lực của Việt Nam trong việc chống đại dịch và khiến Việt Nam trở nên nổi bật hơn trong mắt các nhà đầu tư châu Âu một khi đại dịch kết thúc.

– Khoảng thời gian này năm ngoái, muộn nhất là khi bắt đầu nhiệm kỳ Đại sứ EU tại Việt Nam, ông đã có cuộc trò chuyện trực tuyến với độc giả của Zing. Điểm nổi bật trong năm đầu tiên của bạn là gì?

– Đầu tiên chắc chắn phải là EVFTA (Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam – EU), vì nó đã được thảo luận thường xuyên kể từ những ngày đầu tiên tôi đến đây, với những cột mốc quan trọng như khi hiệp định được phê chuẩn trong Nghị định của Viện Châu Âu, rồi Quốc hội Việt Nam, rồi chính thức có hiệu lực.

Mặc dù năm 2020 là một năm khó khăn vì Covid-19 nhưng Việt Nam đã kiểm soát thành công dịch bệnh. Vì vậy, việc tôi có mặt ở đây có thể coi là một sự may mắn “vượt trội” khi so sánh với những người ở Châu Âu và các nơi khác trên toàn thế giới. Khi ngẫm nghĩ 12 tháng qua, tôi nghĩ Việt Nam đã trở thành tấm gương hàng đầu trong việc ứng phó với đại dịch.

– Sự lây lan của đại dịch này ở châu Âu đã ảnh hưởng như thế nào đến quan hệ Việt Nam – EU?

– Tình hình ở châu Âu hiện nay khó khăn hơn nhiều so với Việt Nam nhưng chúng tôi vẫn đang cố gắng và sẽ vượt qua.

Chúng tôi cũng lạc quan về sự sẵn có của vắc xin trên toàn cầu và chúng tôi tin rằng vắc xin này phải được chia sẻ không chỉ với các nước giàu mà còn với tất cả các quốc gia.

Tôi thấy rằng Việt Nam đã chứng tỏ mình là một đối tác quan trọng, cam kết có năng lực và sự nghiêm túc, điều này sẽ mang lại lợi ích cho các mối quan hệ đối tác trong tương lai.

– Tình hình hiện tại ảnh hưởng thế nào đến cơ hội của những người muốn du học Châu Âu?

– Đại dịch đã ảnh hưởng lớn đến việc đi lại nhưng tôi tin tình hình sẽ sáng sủa hơn trong 12 tháng tới.

Cho đến lúc đó, sự kiên nhẫn là điều tất cả chúng ta cần. Chúng tôi sẽ tiếp tục tập trung vào giáo dục, truyền thông và chia sẻ quan điểm của mình về lý do sinh viên nên học tập tại Châu Âu. Để giới thiệu những cơ hội này, chúng tôi sẽ tổ chức các cuộc triển lãm giáo dục có tổ chức trong những tuần tới.

Đối với chúng tôi, dịch bệnh chỉ là một khó khăn ngắn hạn khi chúng tôi quan sát thấy nhiều sinh viên Việt Nam vẫn muốn sang châu Âu học tập.

– EU đã huy động được 800 triệu euro để giúp ASEAN trong cuộc chiến chống lại Covid-19. Đặc biệt, EU và Việt Nam sẽ hợp tác như thế nào để chống lại đại dịch này?

– Ngay cả ở những quốc gia không có dịch bệnh nghiêm trọng như Việt Nam, họ vẫn phải gánh chịu những tác động kinh tế xã hội. Vì vậy, điều chúng tôi muốn làm ở đây là tạo cơ hội cho các chính phủ nhận được viện trợ không chỉ trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe mà còn cả những thiệt hại mà các quốc gia đang gặp phải.

– EU và Việt Nam sẽ hợp tác về vắc xin như thế nào?

Quan điểm của chúng tôi là vắc xin phải đến được với mọi người và mọi quốc gia chứ không chỉ một số ít. Thế giới chỉ hoàn toàn an toàn khi mọi người không còn bị đe dọa bởi loại virus này.

Chúng tôi muốn hỗ trợ một số hợp tác giữa Việt Nam và các công ty châu Âu. Sau khi tìm thấy vắc xin, chúng tôi cũng muốn hỗ trợ COVAX, một mạng lưới hỗ trợ tài chính nhằm thúc đẩy việc phân phối vắc xin một cách bình đẳng.

Vấn đề chúng ta đang gặp phải là làm thế nào để tạo ra vắc xin không chỉ là vấn đề kinh tế mà còn là vấn đề xã hội. Lợi nhuận không thể là yếu tố quyết định duy nhất khi xem xét việc phân phối vắc xin. Chia sẻ cũng là vấn đề.

– Đại dịch Covid-19 đã khiến các chính phủ và doanh nghiệp cân nhắc sự cần thiết của một chuỗi cung ứng bền vững và linh hoạt. Bạn có nghĩ Việt Nam đủ điều kiện trở thành trung tâm chuỗi cung ứng hàng đầu tiếp theo không?

COVID-19 đã khiến nhiều công ty nhận ra rằng việc bỏ hết trứng vào một giỏ là quá nguy hiểm. Với việc EVFTA được phê duyệt và lợi thế về địa lý ổn định, Việt Nam đang có đà thu hút đầu tư từ các công ty này.

Tôi nghĩ phần còn lại phụ thuộc vào chính phủ Việt Nam. Các nhà đầu tư sẽ không đến chỉ vì lời mời của chính phủ hay giảm thuế mà họ sẽ tập trung tại một quốc gia có sự hỗ trợ đầu tư tốt nhất.

Chính phủ Việt Nam cần cải thiện tính minh bạch về quy định và khả năng dự đoán, đồng thời đơn giản hóa các thủ tục quyết định quyết định của nhà đầu tư.

Tôi nghĩ chính phủ đã nắm bắt được những điểm này và đang cố gắng biến điều đó thành hiện thực, điều này sẽ giúp Việt Nam trở thành trung tâm sản xuất của khu vực một khi họ thực hiện thành công.

Kinh tế số được nhắc đến rất nhiều trong thời kỳ hậu Covid-19. Cơ hội và thách thức cho chuyển đổi số ở Việt Nam là gì?

Tất cả chúng ta sẽ trở thành một phần của nền kinh tế kỹ thuật số. Chúng tôi mua sản phẩm trực tuyến, phỏng vấn nhau trực tuyến, đây sẽ là điều bình thường mới của thế giới hậu Covid-19.

EU và Việt Nam có thể tìm thêm nhiều cách hợp tác để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho quá trình này. Chẳng hạn, cần đơn giản hóa các quy định, giảm bớt thủ tục. Hoặc lĩnh vực thương mại có thể giảm bớt rất nhiều chứng nhận và thủ tục giấy tờ, với sự trợ giúp của công nghệ số.

– Ông từng cho rằng Việt Nam sẽ được hưởng lợi EVFTA từ việc thực hiện hiệp định, cải cách và FDI sẽ không đổ vào Việt Nam chỉ vì được giảm thuế. Sau vài tháng, thỏa thuận này có hiệu lực, bạn nhận xét gì về nó?

– Cần có thời gian để cải tổ và thực thi một thỏa thuận phức tạp như vậy, chúng ta đều biết rằng thành công chỉ sau một đêm không tồn tại. Vì đại dịch cũng làm chậm quá trình; do đó, còn quá sớm để kết luận.

Trong quá trình thực hiện, chúng tôi gặp một số trở ngại nhưng đã vượt qua được, đó là điều bình thường mỗi khi chúng tôi làm điều gì đó mới mẻ. Đối với một số giấy tờ mà chúng tôi thấy không cần thiết, chúng tôi sẽ đề xuất số hóa chúng. Bất cứ khi nào có vấn đề xảy ra, chúng ta hãy ngồi xuống và nói về nó.

– Hàng rào thuế quan có được giảm bớt kịp thời không?

- Tuyệt đối. Ngay từ đầu, thuế đối với 71% hàng hóa Việt Nam xuất khẩu sang châu Âu đã giảm xuống 0%, điều này được chứng minh qua việc số lượng hàng hóa xuất khẩu sang EU thời gian gần đây tăng lên.

Các hàng rào thuế quan còn lại đối với hải sản, giày dép, dệt may xuất khẩu từ Việt Nam cũng sẽ được dỡ bỏ dần trong 7 năm tới theo kế hoạch.

– Theo ông, Việt Nam đã làm tốt những gì để nâng cao tiêu chuẩn lao động theo EVFTA?

– Khi đàm phán EVFTA, tiêu chuẩn lao động là một trong những yếu tố quan trọng cần cân nhắc. Chúng tôi vui mừng khi thấy chính phủ ban hành hai công ước cơ bản của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) trong giai đoạn 2019-2020.

Công ước thứ ba sẽ có hiệu lực vào năm 2023 theo kế hoạch. Trong khi đó, một số yếu tố trong đó đã được đưa vào Luật Lao động mới, sẽ có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2021.

Sau nhiều cam kết của Chính phủ Việt Nam, chúng tôi đang tiếp tục khuyến khích nỗ lực của họ trong việc thực hiện. Mặc dù có một số chậm trễ nhưng chúng tôi đã bàn bạc được các giải pháp cụ thể và nhận được phản hồi tích cực từ phía cơ quan chức năng.

– Như ông vừa nói, EVFTA không chỉ liên quan đến việc giảm thuế mà còn là tầm nhìn của Việt Nam về tính minh bạch và khả năng dự đoán về quy định. EU kỳ vọng gì về điều này?

– Minh bạch không phải là chủ đề dễ dàng, không chỉ ở Việt Nam mà trên toàn thế giới. Chủ đề như vậy đòi hỏi sự thay đổi trong tư duy cũng như tư duy.

Thứ nhất, khả năng dự đoán của các quy định phụ thuộc vào cách thức cơ cấu chính phủ, điều này đòi hỏi rất nhiều nỗ lực. Quan trọng hơn, trong khi chúng tôi đang thúc đẩy tình hình này, chúng tôi nhận thấy sự hiểu biết của chính phủ Việt Nam về tầm quan trọng của nó.

Thứ hai, tất nhiên việc triển khai không thể hoàn thành trong thời gian ngắn, nhưng tôi chắc chắn rằng chúng tôi sẽ làm được.

Vì tình trạng quan liêu ở Việt Nam quá mức nên chúng tôi rất vui mỗi khi có sự cắt giảm giấy tờ, chứng chỉ.

Nhu cầu của Việt Nam về thứ hạng tốt trong các chỉ số tạo thuận lợi kinh doanh cũng đi đôi với yêu cầu của Chính phủ về đơn giản hóa thủ tục hành chính; do đó, mọi người đều ở trên cùng một trang. Điều này không chỉ có lợi cho chúng tôi, các công ty châu Âu mà còn vì lợi ích của người dân và doanh nghiệp Việt Nam.

Trong khi các doanh nghiệp lớn có thể thông qua các thủ tục hành chính thì các doanh nghiệp SME lại khó khăn hơn. Tuy nhiên, nếu minh bạch thuận lợi hơn cho họ, 1,5 việc làm mới sẽ được tạo ra cho hàng triệu thanh niên gia nhập lực lượng lao động hàng năm.

– Sau EVFTA, nhiều quan điểm lạc quan cho rằng FDI chất lượng cao từ châu Âu có thể đổ vào Việt Nam. Cơ hội và thách thức của hoạt động này là gì?

Bên cạnh lợi thế về dân số và vị trí địa lý lý tưởng, Việt Nam còn sở hữu sự ổn định chính trị và tiềm năng kinh tế.

Thách thức chúng ta cần nắm bắt là những xu hướng khó lường trong tương lai như đại dịch, bất đồng quan điểm chống toàn cầu hóa, rồi rào cản ngôn ngữ.

Gần đây, tôi đã đến thăm một khu công nghiệp ở tỉnh Hải Phòng. Tôi rất ấn tượng trước rất nhiều nỗ lực và thời gian họ bỏ ra để đơn giản hóa thủ tục, điều này không thể đạt được nếu các doanh nghiệp vừa và nhỏ tự làm.

– Kể từ tháng 10, đã một năm kể từ khi xảy ra thảm kịch 39 người Việt di cư trái phép trên xe container ở Essex, Anh. Những thay đổi nào đã được thực hiện để ngăn chặn những thảm kịch như vậy trong tương lai?

Sự thay đổi cần có thời gian và đòi hỏi một số yếu tố. Về cơ bản, chúng ta cần một chiến lược đa diện và thống nhất.

Trước hết, chúng ta phải nâng cao nhận thức về những rủi ro và cho người di cư thấy rằng việc thay đổi cuộc sống là điều hoàn toàn có thể xảy ra ở Việt Nam. Họ không phải mạo hiểm mạng sống của mình ở châu Âu hay nơi nào khác. Đó là lý do tại sao EU luôn nỗ lực hỗ trợ sự phát triển bền vững.

Thứ hai, chúng ta cần ngăn chặn các nhóm bất hợp pháp thu lợi từ giấc mơ về EU của người di cư. Chúng tôi mong muốn được thảo luận thêm với chính phủ để hợp tác chống lại nạn buôn người. Một số hợp tác giữa cơ quan thực thi pháp luật đã được thực hiện.

- Nhiều nước châu Âu đã giảm hoặc ngừng hỗ trợ tài chính cho Việt Nam sau khi Việt Nam lọt vào danh sách các nước có thu nhập trung bình. Liệu sự hỗ trợ của EU có còn ở dạng không hoàn lại?

– Chúng tôi vẫn mong đợi nó sẽ không được hoàn lại, nhưng không biết chính xác tỷ lệ phần trăm

Khi một quốc gia trở nên phát triển hơn, viện trợ của họ sẽ chuyển sang những quốc gia đang có nhu cầu. Nhưng quan điểm hiện tại của chúng tôi là muốn tiếp tục cung cấp viện trợ không hoàn lại cho Việt Nam.

(Bản dịch từ Zing.vn)

Nộp vào: Blog